Lễ Phép _Politeness

Bạn không thể học được nếu bạn không lễ phép.
You cannot learn if you are not polite.
Và bạn không cần phải vô lễ ngay cả đối với kẻ thù vì bạn thắng hay bại là do những gì bạn làm và không làm.
And you do not have to be impolite even to your enemy because you win or lose due to what you do and what you do not do.
Khai Phi

Tiên học lễ hậu học văn
(Câu nói của người Trung Quốc)
First learn to be polite then learn to acquire knowledge
(Chinese saying)

Lời Cái Búa

Búa đập đinh cái “chát” !
Đinh lún xuống thật sâu .
Đinh sắt , búa cũng sắt
Ai bảo búa không đau ?

Tay vung búa rắn chắc .
Tiếng “chát” vang đều đều .
Nào có ai thắc mắc
Đinh kêu , hay búa kêu ?

Búa hết lòng phụng sự
Trong bàn tay con người
Chẳng bao giờ cự nự ,
Được việc là vui thôi !

Người lúc yêu , lúc ghét
Thường khi quên ta luôn !
Thậm chí để rỉ sét .
Sao biết búa không buồn ?

Kiên nhẫn nằm chờ đợi
Ngày qua lại ngày qua ,
Lòng dạ người thay đổi ,
Riêng ta vẫn là ta .

Bỗng nhiên tới một bữa
Người chợt cần đến ta
Để đâu không nhớ nữa ,
Tìm hoài , rồi cũng ra !

Đã hay : dùng rồi bỏ ,
Ta vẫn tiếp tay người
Dù “vắt chanh bỏ vỏ !” ,
Thành công là vui thôi !

Không trách người vô ơn ,
Không hận đời cô đơn ,
Lòng ta là gang thép !
Tình ta là sắt son !!!

Trần Quốc Bảo

 

Chú thích của Khai Phi

Le style , c’est l’homme .
(Dicton français)
Văn tức là người .
(Câu nói của người Pháp)
Ôi , bây giờ mới biết rõ nhân cách và tấm lòng của Đại Huynh Trần Quốc Bảo , thi sĩ .
Đây là một trong những bài thơ hay nhất mà tôi , 79 tuổi , đã được biết .

Thời Gian Trôi …_Time Goes By …

Thời gian trôi qua luôn luôn với một vận tốc không đổi.
Time goes by always at a constant speed.
Nhưng người ta nói thời gian trôi qua quá chậm:
Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại (câu nói của người Trung Quốc) nghĩa là một ngày trong tù dài bằng một nghìn năm bên ngoài. Nhất là một, nhật là ngày, tại là ở, tù là tù, thiên là một nghìn, thu là mùa thu ý nói là năm, tại là ở, ngoại là ngoài.
But people say time goes by so slowly:
One day in prison is as long as a thousand years outside (Chinese saying).
Người ta còn nói ngay cả thời gian trôi qua quá nhanh:
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ (câu nói của người Việt Nam) nghĩa là thời gian nhanh như bóng ngựa qua cửa sổ (câu nghĩa là con ngựa khoẻ).
And people even say time passes by so fast:
Time passes by like a horse shadow across the window. (Vietnamese saying).

Ôi thời gian !
Oh time !

Khai Phi Hạnh Nguyên

Mẹ Ơi Con Nhớ

Sáng nay nhớ Mẹ nao nao .
Nhớ sao nhớ quá lệ trào Mẹ ơi .
Nhớ câu Mẹ hát ru hời
Đi theo con suốt quãng đời ly hương …

Nhớ giàn trầu trĩu sau vườn ,
Hàng cau đứng lặng , con mương sau nhà .
Nhớ cây bông sứ đầy hoa
Mẹ xâu thành chuỗi làm quà tặng con .

Con đi Mẹ đợi mỏi mòn .
Ngày đêm trông ngóng héo hơn thân già .
Bây chừ Mẹ đã rời xa .
Trong con còn mãi tiếng ca ví dầu …

Phạm Phan Lang
May 9, 2019

Hương Thời Gian

     Năm tháng qua chưa xóa hận tình ,
     Chẳng làm tan biến thệ ba sinh ,
     Chẳng quăng dĩ văng vào đâu được ,
     Chẳng dứt đường tơ chuyện chúng mình .

Làm sao sống lại thuở trung trinh ,
Cái thuở đôi ta mộng viễn trình ,
Đã trói tình nhau trong sóng mắt ,
Đã từng thề thốt nợ ba sinh ?

Rồi lá thu rơi , nước biệt nguồn .
Nghìn trùng xa cách , mạch sầu tuôn .
Biển sâu , đất rộng , người đôi ngả .
Đêm viết thư tình gởi nhớ thương .

Chẳng biết vì sao lại lỡ làng
Khi đò không một kẻ sang ngang .
Sóng xô , bão giật , tình ly biệt
Để mộng đời đau xót , vỡ tan?

Sáu mươi năm lẻ đã qua nhanh .
Em viết cho anh chúc vạn lành
Và xin anh biết là em vẫn
Một đời hoài vọng tháng ngày xanh .

Cao Minh Nguyệt
Thân tặng NMH mà dòng thơ anh viết khi xưa “Đời cách xa nhau rét vạn miền” vẫn còn làm tim em loạn nhịp

Sérénade Sans Espoir_Bài Tình Ca Bên Song Vô Vọng

Chaque soir , tendrement j’entends chanter sous ma fenêtre .
Chiều chiều , tôi nghe thấy tiếng hát trìu mến dưới cửa sổ .
Chaque soir , un amant revient vers moi pour m’émouvoir . (1)
Chiều chiều , một người yêu trở lại với tôi để làm cho tôi cảm động .
Si , si , si , ce n’est qu’une sérénade .
Đúng thế , đúng , đúng , đó chỉ là một bài tình ca bên song .
Si , si , si , sérénade sans espoir .
Đúng thế , đúng , đúng , một bài tình ca bên song vô vọng .

Dans le noir , je l’entends chanter pour moi de tout son être .
Trong bóng tối , tôi nghe thấy người ấy hát cho tôi với tất cả tấm lòng .
Mais hélas , dans mon cœur et dans ma maison , il fait noir .
Nhưng hỡi ơi , trong lòng tôi và trong nhà tôi là bóng tối .
Si , si , si , ce n’est qu’une sérénade .
Đúng thế , đúng , đúng , đó chỉ là một bài tình ca bên song .
Si , si , si , sérénade sans espoir .
Đúng thế , đúng , đúng , một bài tình ca bên song vô vọng .

Il a cru qu’autrefois je l’aimais, il veut le croire encore .
Người đó đã tin rằng ngày xưa tôi yêu người đó , người đó muốn tin như thế nữa .
Mais mon cœur s’est fermé à jamais , c’est en vain qu’il m’implore .
Nhưng tim tôi đã khép lại mãi mãi và người đó van xin tôi vô ích .

Chaque soir , tristement il vient chanter sous ma fenêtre .
Chiều chiều , người đó đến hát dưới cửa sổ nhà tôi một cách buồn bã .
Chaque soir , il s’en va sans m’attendrir et sans me voir .
Chiều chiều , người đó ra về không làm tôi mềm lòng và không gặp tôi .
Si , si , si , ce n’est qu’une sérénade .
Đúng thế , đúng , đúng , đó chỉ là một bài tình ca bên song .
Si , si , si , sérénade sans espoir .
Đúng thế , đúng , đúng , một bài tình ca bên song vô vọng.

Ah ah ah ah ah ah …
À a á a à a …
Ah ah ah ah ah ah …
À a á a à á …

(1) Amant : một người đàn ông có chung sống nhưng không kết hôn .

 

Khai Phi dịch ra văn xuôi tiếng Việt

 

Tôi Như …_ I Am Like * …

Tôi như hạt bụi trên đời .
I am like dust in the world .
Bão thời cuộc thổi tôi rời quê hương …
A political tempest blew me away from my country …
Tôi như chim nhỏ tìm đường .
I am like a small wandering bird
Đất lành chim đậu dù phương trời nào .
That settles where is safe .
Xa quê , đôi lúc lòng đau .
In the foreign country , I often feel sad .
Nhớ người , nhớ cảnh đã mau tìm về .
I missed people and places , and I came back .
Người mong gặp đã ra đi .
People that I expected to see again had been gone
Dấu xua còn đó , lòng tê tái buồn …
When places looked like before , and my heart turned blue …
Tôi như chim nhỏ tìm đường .
I am like a small wandering bird
Đất lành chim đậu dù phương trời nào …
That settles where is safe …

* Translation into plain English

Khai Phi
April 20, 2019

Xuân Này Con Về , Mẹ Ở Đâu ?

Xuân này con về thăm .
Xa nhà đã bao năm
Qua bao mùa mưa nắng ,
Nhớ mẹ con khóc thầm .

Đường xưa vô xóm cũ ,
Lần cuối trời vào thu ,
Mẹ tiễn còn ngày ấy ,
Trời mưa buồn âm u .

Truân chuyên nhiều gian khó ,
Bôn ba nơi xứ người .
Quê nhà sao xa quá ,
Hai cảnh hai hướng đời .

Đường xưa nhiều thay đổi ,
Nắng xuân nhạt cuối trời ,
Hàng cau buồn lặng lẽ ,
Đường khô lạnh tiếng cười .

Đóa mai nở ngậm ngùi ,
Vàng võ giọt nắng rơi .
Mẹ đã xa trần thế ,
Con khô lệ cút côi .

Xót xa con khóc mẹ ,
Nén hương thắp tái tê ,
Ngắm bàn thờ di ảnh
Hiền hậu bà mẹ quê .

Nhìn con như trách thầm
“Xa mẹ đã bao năm
Qua bao mùa mai nở
Sao không lần về thăm?”

Cúi đầu còn lạy mẹ ,
Rơi dòng lệ ăn năn .
Mẹ ơi , xin an giấc
Ngàn thu ấm chỗ nằm …

Linda Võ Thị Tuyết
Xuân 2014

Linda Võ Thị Tuyết

Cựu học sinh trường Trung Học Bán Công Trần Thượng Xuyên Biên Hòa thời 1960 .
Chủ nhiệm Biên Hòa Memories .
Sáng tác thơ không nhiều nhưng có bài thơ làm Võ Thị Tuyết xứng danh thi sĩ .

Former student in Tran Thuong Xuyen semipublic high school in Bien Hoa, Vietnam in the 1960’s.
Owner of Bien Hoa Memories.
Does not compose many poems, but certain ones have made Tuyết a poetess.

Lục Thập Hoa Giáp

LỤC THẬP HOA GIÁP
(TÀI LIỆU DO KHAI PHI HẠNH NGUYÊN SƯU TẦM)

1900 Canh Tý & 1901 Tân Sửu: Bích Thượng Thổ khắc Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907), kỵ Thạch Lựu Mộc (1920 & 1921).
1902 Nhâm Dần & 1903 Quý Mão: Kim Bạc Kim kỵ Lư Trung Hỏa (1926 & 1927).
1904 Giáp Thìn & 1905 Ất Tỵ: Phúc Đăng Hỏa khắc Thoa Xuyến (1910 & 1911), Kiếm Phong (1932 & 1933), và Bạch Lạp Kim (1940 & 1941).
1906 Bính Ngọ & 1907 Đinh Mùi: Thiên Thượng Thủy khắc Thiên Thuợng Hỏa (1918 & 1919), Tích Lịch Hỏa (1948 & 1949), kỵ Giản Hạ Thủy (1936 & 1937), Bích Thượng Thổ (1900 & 1901), Đại Trạch Thổ (1908 & 1909), Thành Đầu Thổ (1938 & 1939), Ốc Thượng Thổ (1946 & 1947).
1908 Mậu Thân & 1909 Kỷ Dậu: Đại Trạch Thổ khắc Thiên Thượng Thủy
(1906 & 1907), kỵ Đại Lâm Mộc (1928 & 1929).
1910 Canh Tuất & 1911 Tân Hợi: Thoa Xuyến Kim khắc Đại Lâm Mộc 1928 & 1929), kỵ Phúc Đăng Hỏa (1904 & 1905).
1912 Nhâm Tý & 1913 Quý Sửu: Tang Đố Mộc khắc Ốc Thượng Thổ (1946 & 1947).
1914 Giáp Dần & 1915 Ất Mão: Đại Khê Thủy khắc Sơn Hạ Hỏa (1956 & 1957).
1916 Bính Thìn & 1917 Đinh Tỵ: Sa Trung Thổ kỵ Dương Liễu Mộc (1942 & 1943).
1918 Mậu Ngọ & 1919 Kỷ Mùi: Thiên Thượng Hỏa khắc Sa Trung Kim (1954 & 1955) kỵ Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907), Đại Hải Thủy (1922 & 1923), Tuyền Trung Thủy (1944 & 1945), Trường Lưu Thủy (1952 & 1953).
1920 Canh Thân & 1921 Tân Dậu: Thạch Lựu Mộc khắc Bích Thượng Thổ (1900 & 1901), kỵ Sa Trung Kim (1954 & 1955).
1922 Nhâm Tuất & 1923 Quý Hợi: Đại Hải Thủy khắc Thiên Thượng Hỏa (1918 & 1919).
1924 Giáp Tý & Ất Sửu 1925: Hải Trung Kim khắc Bình Địa Mộc (1958 & 1959).
1926 Bính Dần & 1927 Đinh Mão: Lư Trung Hỏa khắc Kiếm Phong Kim (1932 & 1933), Kim Bạc Kim (1902 & 1903).
1928 Mậu Thìn & 1929 Kỷ Tỵ: Đại Lâm Mộc khắc Đại Trạch Thổ (1908 & 1909), kỵ Thoa Xuyến Kim (1910 & 1911).
1930 Canh Ngọ & 1931 Tân Mùi: Lộ Bàng Thổ khắc Tuyền Trung Thủy (1944 & 1945), kỵ Dương Liễu Mộc (1942 & 1943), Tùng Bách Mộc (1950 & 1951).
1932 Nhâm Thân & 1933 Quý Dậu: Kiếm Phong Kim kỵ Phúc Đăng Hỏa (1904 & 1905), Lư Trung Hỏa (1926 & 1927).
1934 Giáp Tuất & 1935 Ất Hợi: Sơn Đầu Hỏa khắc Sa Trung Kim (1954 & 1955).
1936 Bính Tý & 1937 Đinh Sửu: Giản Hạ Thủy khắc Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907).
1938 Mậu Dần & 1939 Kỷ Mão: Thành Đầu Thổ khắc Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907).
1940 Canh Thìn & 1941 Tân Tỵ: Bạch Lạp Kim kỵ Phúc Đăng Hỏa (1905 & 1904).
1942 Nhâm Ngọ & 1943 Quý Mùi: Dương Liễu Mộc khắc Lộ Bàng Thổ (1920 & 1921), Sa Trung Thổ (1916 & 1917).
1944 Giáp Thân & 1945 Ất Dậu: Tuyền Trung Thủy khắc Thiên Thượng Hỏa (1918 & 1919), kỵ Lộ Bàng Thổ (1930 & 1931).
1946 Bính Tuất & 1947 Đinh Hợi: Ốc Thượng Thổ khắc Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907), kỵ Tang Đố Mộc (1912 & 1913).
1948 Mậu Tý & 1949 Kỷ Sửu: Tích Lịch Hỏa kỵ Thiên Thượng Thủy (1906 & 1907), Sơn Hạ Hỏa (1956 & 1957).
1950 Canh Dần & 1951 Tân Mão: Tùng Bách Mộc khắc Lộ Bàng Thổ (1930 & 1931).
1952 Nhâm Thìn & 1953 Quý Tỵ: Trường Lưu Thủy khắc Thiên Thượng Hỏa (1918 & 1919).
1954 Giáp Ngọ & 1955 Ất Mùi: Sa Trung Kim khắc Thạch Lựu Mộc (1920 & 1921), Bình Địa Mộc (1958 & 1959), ky Sơn Đầu Hỏa (1934 & 1935), Thiên Thượng Hỏa (1918 & 1919).
1956 Bính Thân & 1957 Đinh Dậu: Sơn Hạ Hỏa khắc Tích Lịch Hỏa (1948 & 1949), kỵ Đại Khê Thủy (1914 & 1915).
1958 Mậu Tuất & 1959 Kỷ Hợi: Bình Địa Mộc kỵ Sa Trung Kim (1954 & 1955), Hải Trung Kim (1924 & 1925).

TUỔI TAM HỢP
Thân Tý Thìn
Tỵ Dậu Sửu
Dần Ngọ Tuất
Hợi Mão Mùi

TUỔI TỨ HÀNH XUNG
Tý Ngọ Mẹo Dậu
Thìn Tuất Sửu Mùi
Dần Thân Tỵ Hợi

MẠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH
Kim sinh Thủy. Thủy dưỡng Mộc. Mộc sinh Hỏa. Hóa sinh Thổ. Thổ sinh Kim.
MẠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC
Kim khắc Mộc (Mộc kỵ Kim). Mộc khắc Thổ (Thổ kỵ Mộc). Thủy khắc Hỏa (Hỏa kỵ Thủy). Hỏa khắc Kim (Kim kỵ Hỏa). Thổ khắc Thủy (Thủy kỵ Thổ).

CHÚ Ý
Nếu bạn sinh sau năm 1959, thí dụ bạn sinh năm 1960 thì lấy 1960 trừ đi 60 thành 1900. Vậy xem năm 1900 để biết về tuổi 1960 của bạn.
Làm như vậy nếu bạn sinh bất cứ năm nào sau năm 1960 để biết về tuổi của bạn.
Nếu sinh trước 1900, thí dụ 1890, thì lấy 1890 cộng thêm 60 thành 1950. Xem năm 1950 để biết về tuổi 1890.
Làm như vậy nếu ai sinh bất cứ năm nào trước 1900 để biết về tuổi của người này.

MẠNG LƯỠNG KHẮC VÀ LƯỠNG HỢP
(TÀI LIỆU DO NỮ EMAIL FRIEND TRẦN LÊ HƯƠNG SƯU TẦM)

Hai mạng Kim với nhau đều bị Lưỡng Kim Kim Khuyết, trừ Sa Trung Kim và Kiếm Phong Kim là Lưỡng Kim Thành Khí.
Hai mạng Mộc với nhau đều bị Lưỡng Mộc Mộc Triết, trừ Bình Điạ Mộc và Đại Lâm Mộc là Lưỡng Mộc Thành Viên.
Hai mạng Thủy với nhau đều bị Lưỡng Thủy Thủy Kiệt, trừ Thiên Hà Thủy và Đại Hải Thủy là Lưỡng Thủy Thành Giang.
Hai mạng Hỏa với nhau đều bị Lưỡng Hỏa Hỏa Diệt, trừ Lư Trung Hỏa và Phúc Đăng Hỏa là Lưỡng Hỏa Thành Viêm.
Hai mạng Thổ với nhau đều bị Lưỡng Thổ Thổ Liệt, trừ Bich Thượng Thổ là Lưỡng Thổ Thành Sơn.

1 2 3 42